Đa số bài viết trên trang này nói về máy bơm, còn S531 lại là thiết bị đi kèm bơm. Vì vậy cách trình bày ở đây xoay quanh câu hỏi khác: tủ nhận biết được những sự cố nào, phản ứng ra sao, và người vận hành phải làm gì với từng tín hiệu hiện trên màn hình. Mọi chi tiết đều lấy từ bảng chức năng và hướng dẫn sử dụng kèm theo sản phẩm.
Vai trò của một tủ điều khiển bơm
Bơm hỏng hiếm khi vì bản thân cái bơm. Phần lớn ca hỏng đến từ lưới điện chập chờn, từ việc bơm chạy khi bể đã cạn, hoặc từ một pha bị mất mà không ai biết. Tủ điều khiển tồn tại để cắt điện trước khi những tình huống đó kịp làm hỏng cuộn dây.
S531 làm việc đó bằng cách đo dòng điện và điện áp liên tục, so với mốc đã ghi nhớ, đồng thời nhận thêm tín hiệu phao từ bể để biết có nên cho bơm chạy hay không.
Danh sách chức năng ghi trong bảng
Bảng chức năng của sản phẩm nêu các mục sau:
- Báo quá A và thấp A – giám sát dòng điện theo cả hai hướng.
- Báo quá vôn và thấp vôn – giám sát điện áp nguồn.
- Báo cạn và báo đầy – làm việc với phao đặt tại bể.
- Chống mất pha – dành cho hệ ba pha.
Không có mục nào ngoài danh sách này được nêu trong tài liệu, nên khi cần chức năng khác thì phải hỏi kỹ thuật trước chứ đừng suy đoán theo tên gọi.
Đấu được cho những loại động cơ nào
Tài liệu ghi rõ tủ có bản dùng cho động cơ điện một pha và bản dùng cho động cơ điện ba pha. Riêng ba pha được chia theo dải công suất: 0,75 – 4 kW, 5,5 kW, 7,5 kW và 7,5 – 15 kW.
Nghĩa là khi đặt mua, hai thông tin bắt buộc phải có là số pha của bơm và công suất kW ghi trên nhãn động cơ. Thiếu một trong hai thì chưa chốt được mã tủ.
Ba nhóm sự cố và cách tủ phản ứng
Nhóm thứ nhất – dòng điện. Nếu dòng vượt 115% dòng định mức, tủ hiểu là quá tải và dừng bơm, hiện tín hiệu QUÁ A. Nếu dòng tụt xuống dưới 70% dòng định mức, tủ hiểu là bơm đang chạy non tải, ví dụ chạy không có nước, và cũng dừng bơm với tín hiệu THẤP A. Trường hợp nặng hơn, quá tải tới 125% dòng định mức hoặc bơm bị kẹt, màn hình hiện KẸT.
Nhóm thứ hai – điện áp. Bơm chỉ được phép chạy khi điện áp nằm trên 340 V và dưới 435 V. Ra ngoài khoảng đó, tủ dừng bơm và hiện THẤP V hoặc QUÁ V tương ứng.
Nhóm thứ ba – mức nước. Khi có phao và tủ đang ở chế độ tự động, bể dưới cạn sẽ hiện CẠN, bể trên đầy sẽ hiện ĐẦY. Cả hai tín hiệu này đều làm bơm dừng.
Dạy tủ nhớ dòng làm việc của bơm
Tủ không có sẵn một con số dòng định mức. Nó lấy mốc từ chính chiếc bơm đang đấu, nên bước này bắt buộc phải làm sau khi đấu nối, và phải làm đúng.
- Ấn MODE đưa tủ về chế độ THƯỜNG.
- Ấn START cho bơm chạy.
- Quan sát đồng hồ ampe trên mặt tủ. Con số hiển thị phải bằng hoặc thấp hơn chút ít so với dòng định mức ghi trên nhãn động cơ.
- Giữ phím START cho tới khi nghe tiếng “TIT” rồi thả ra.
- Tủ ghi nhớ thông số bảo vệ và đếm ngược 10 giây.
- Sau 10 giây, dòng chữ CHƯA B.VỆ tắt. Bơm chính thức được bảo vệ.
Nếu ngay lúc chạy thử mà dòng đã cao hơn nhãn, đừng ghi nhớ vội. Tủ sẽ lấy đúng con số bất thường đó làm chuẩn, và từ đó về sau mọi ngưỡng bảo vệ đều lệch theo.
Xoá mốc cũ trước khi lắp bơm khác
Mỗi lần đổi bơm là một lần phải xoá mốc cũ. Bỏ qua bước này thì hoặc bơm mới không được bảo vệ, hoặc tủ báo lỗi không dứt.
- Chuyển về chế độ THƯỜNG bằng phím MODE.
- Ấn STOP cho bơm dừng hẳn.
- Giữ tiếp phím STOP tới khi tủ kêu “TIT” thì thả tay.
- Màn hình hiện CHƯA B.VỆ, tức là bộ nhớ cũ đã xoá.
- Thực hiện lại quy trình ghi nhớ dòng như phần trên.
Chế độ THƯỜNG và chế độ TỰ ĐỘNG
Phím MODE dùng để đổi qua lại giữa hai chế độ, và chế độ đang hoạt động luôn hiển thị ở góc phải phía dưới màn hình.
Ở chế độ THƯỜNG, bơm chạy khi ấn START và dừng khi ấn STOP. Đây là chế độ dùng lúc chạy thử, lúc kiểm tra dòng hoặc khi hệ chưa lắp phao.
Ở chế độ TỰ ĐỘNG, quyền điều khiển chuyển hết sang phao. Hai phím START và STOP mất tác dụng điều khiển bơm. Nhiều người mới dùng ấn START thấy bơm không nhúc nhích rồi kết luận tủ hỏng, trong khi thực tế tủ đang làm đúng thiết kế.
Đấu phao vào đúng chân
Chế độ tự động chạy theo phao lắp ở bể dưới, bể trên hoặc cả hai bể. Sơ đồ đấu theo tài liệu:
- Phao của bể dưới đấu vào chân 1, 2, 3.
- Phao của bể trên đấu vào chân 4, 5, 6.
- Khi chân 1, 2, 3 thông mạch, tủ hiểu là bể dưới đầy.
- Khi chân 4, 5, 6 thông mạch, tủ hiểu là bể trên đầy.
Logic chạy rút gọn lại thành một câu: bơm chỉ chạy khi không có tín hiệu CẠN và cũng không có tín hiệu ĐẦY, tức là bể dưới còn nước và bể trên chưa đầy. Chỉ cần một trong hai tín hiệu xuất hiện là bơm nằm im.
Đọc các tín hiệu trên màn hình
- CHƯA B.VỆ – chưa cài bảo vệ. Quay lại quy trình ghi nhớ dòng.
- CHẠY – bơm đang chạy; không thấy tín hiệu này nghĩa là bơm đang dừng.
- ĐẦY – bể trên đã đầy, tủ ngắt bơm khi đang ở chế độ tự động và có lắp phao báo đầy.
- CẠN – bể dưới hết nước, tủ ngắt bơm khi đang ở chế độ tự động và có lắp phao báo cạn.
- THẤP V – điện áp dưới 340 V.
- QUÁ V – điện áp trên 435 V.
- QUÁ A – dòng vượt 115% dòng định mức.
- THẤP A – dòng dưới 70% dòng định mức.
- KẸT – bơm kẹt hoặc quá tải 125% dòng định mức; phải kéo bơm lên kiểm tra động cơ và buồng cánh.
- MẤT PHA – mất một pha nguồn; kiểm tra lại dây điện.
Thời gian chờ trước khi tủ thử lại
Tủ không khoá cứng sau mỗi lần cắt. Với hai lỗi điện áp, cứ 5 phút tủ tự kiểm tra một lần; khi điện áp trở về trong khoảng cho phép thì tín hiệu lỗi tắt. Với hai lỗi dòng, thời gian chờ là 15 phút.
Sau khi tín hiệu lỗi tắt, việc bơm chạy lại hay không phụ thuộc chế độ đang chọn: ở chế độ tự động bơm tự khởi động lại, còn ở chế độ thường người vận hành phải ấn START.
Chi tiết này đáng nhớ khi xử lý sự cố ban đêm: thấy bơm dừng mà màn hình sạch tín hiệu, rất có thể lỗi vừa tự xoá sau khoảng chờ, và nguyên nhân gốc vẫn còn đó.
Vị trí lắp tủ
- Treo tủ ở chỗ khô ráo, tránh nước hắt và tránh hơi ẩm bốc lên từ bể.
- Đặt ở tầm mắt để đọc được đồng hồ ampe và màn hình khi bơm đang chạy.
- Chừa lối thao tác trước mặt tủ, không kê vật cản.
- Dây từ tủ xuống bơm phải đủ tiết diện theo chiều dài thực tế, vì sụt áp trên đường dây cũng làm tủ báo THẤP V.
Phần điều khiển bằng điện thoại
Tên sản phẩm có nhắc tới việc điều khiển qua điện thoại thông minh, nhưng bảng chức năng đi kèm chỉ mô tả các nhóm bảo vệ và hai chế độ vận hành tại tủ. Tài liệu không nêu chi tiết cách ghép nối hay thao tác trên điện thoại.
Do đó phần này nên hỏi bộ phận kỹ thuật theo đúng lô hàng nhận được. Điều có thể khẳng định là các ngưỡng dòng, ngưỡng áp và tín hiệu phao đều do tủ xử lý ngay tại chỗ, nên bơm vẫn được bảo vệ đầy đủ kể cả khi không có kết nối điện thoại.
Chọn tủ cho đúng bơm
- Chụp lại nhãn động cơ để có số pha, kW và dòng định mức.
- Đối chiếu với các dải mà tủ hỗ trợ để chọn đúng mã.
- Xác định hệ có mấy phao và đặt ở bể nào.
- Kiểm tra điện áp lưới tại công trình có ổn định trong khoảng 340 – 435 V hay không.
Nếu lưới tại chỗ thường xuyên tụt áp, nên xử lý phần nguồn trước; nếu không, tủ sẽ liên tục cắt bơm theo đúng chức năng của nó và người dùng lại tưởng thiết bị có vấn đề.
Bảo hành và đặt hàng
Tủ điện HanJin S531 được bảo hành theo chính sách của nhà sản xuất tính từ ngày giao hàng, kèm hướng dẫn cài đặt và đấu nối. Giá báo riêng theo từng đơn và chưa gồm VAT.
Hàng có sẵn kho với số lượng lớn, đơn chốt trong ngày giao trong ngày.
Liên hệ kỹ thuật và kinh doanh: Phương Hoa – 097.403.5096. Công ty TNHH TM&CN Trung Kiên. Hà Nội: Số 5, Ngõ 196, Đường Thạch Bàn, Phường Long Biên, TP Hà Nội. TP HCM: Số 484/5 Khu phố 62, Phường An Phú Đông, Thành phố Hồ Chí Minh.



